Tin tức 07/07/2022

Bệnh tay chân miệng lây qua đường nào?

Bệnh tay chân miệng là một bệnh truyền nhiễm thường gặp ở trẻ nhỏ và là mối lo lắng của nhiều bậc cha mẹ trước nguy cơ gặp phải biến chứng nặng nề. Tìm hiểu thông tin về bệnh lý tay chân miệng là vô cùng cần thiết để bảo vệ sức khỏe của con. Vậy bệnh tay chân miệng lây qua đường nào?
1.Cha mẹ biết gì về bệnh tay chân miệng ở trẻ em?
Khác với sốt siêu vigiai đoạn ủ bệnh tay chân miệng kéo dài khoảng từ 3 - 7 ngày, tuy nhiên lại không có bất kỳ dấu hiệu nào để nhận biết. Khi đến giai đoạn tay chân miệng khởi phát từ 1 - 2 ngày, trẻ sẽ có các triệu chứng như: sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, chán ăn, tiêu chảy một vài lần trong ngày. Ở giai đoạn tay chân miệng toàn phát kéo dài từ 3 - 10 ngày, trẻ bắt đầu xuất hiện các triệu chứng điển hình của bệnh tay chân miệng như sau:
  • Loét miệng: xuất hiện các vết loét đỏ hay phỏng nước có đường kính từ 2 - 3mm ở vị trí niêm mạc miệng, lợi, lưỡi. Các vết loét gây đau miệng khiến trẻ chán ăn, bỏ bú và kích thích tăng tiết nước bọt.
  • Phát ban dạng phỏng nước: các nốt phỏng nước sẽ xuất hiện ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu gối, mông và tồn tại ở những vị trí này trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó sẽ lành lại nhưng để lại vết thâm, rất hiếm khi các nốt phỏng nước gây loét hay bội nhiễm.
  • Sốt nhẹ và nôn: Nếu trẻ bị tay chân miệng có triệu chứng sốt cao và nôn nhiều sẽ dễ có nguy cơ gây ra các biến chứng thần kinh, biến chứng trên tim mạch, hệ hô hấp và thường xuất hiện sớm từ ngày 2 - 5 của bệnh
Về cơ bản, nếu các bậc phụ huynh có thể đảm bảo việc điều trị đúng cách thì các biến chứng của bệnh tay chân miệng sẽ hiếm khi xảy ra. Tuy nhiên, nếu chủ quan, tay chân miệng có thể gây ra một số biến chứng nguy hiểm như:
  • Biến chứng thần kinh: trẻ tay chân miệng có thể dẫn đến biến chứng viêm não, viêm thân não, viêm não tủy hoặc viêm màng não;
  • Rung giật cơ, giật mình, chới với: Rung giật cơ từng cơn ngắn từ 1 - 2 giây, chủ yếu rung giật ở tay và chân, dấu hiệu này dễ xuất hiện khi trẻ bắt đầu ngủ hay khi cha mẹ cho trẻ nằm ngửa.
  • Ngủ gà, ngủ gật, bứt rứt, đi loạng choạng, run tay chân, mắt nhìn ngược.
  • Yếu, liệt chi, liệt dây thần kinh sọ não.
  • Rung giật nhãn cầu, co giật, hôn mê: thường là dấu hiệu tay chân miệng rất nặng, có thể đi kèm với suy hô hấp, tuần hoàn.
  • Tăng trương lực cơ;
  • Biến chứng trên hệ tim mạch, hệ hô hấp: Viêm cơ tim, phù phổi cấp, tăng huyết áp, suy tim…

2.Bệnh tay chân miệng có lây không, bệnh tay chân miệng lây qua đường nào?

Bệnh tay chân miệng có lây không? Tay chân miệng là bệnh lý truyền nhiễm gây ra bởi hai loại virus là Coxsackievirus và Enterovirus. Mỗi loại virus có đặc điểm dịch tễ, phân bố theo vùng và từng năm khác nhau, vì vậy tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm có thể lây lan và bùng phát thành dịch. Năm nào xảy ra dịch tay chân miệng do chủng Enterovirus chiến ưu thế thì bệnh nhân mắc bệnh sẽ có nhiều biến chứng nặng nề hơn.
Đối tượng thường gặp nhất của bệnh tay chân miệng là nhóm trẻ dưới 3 tuổi, đặc biệt có thể xảy ra tay chân miệng ở trẻ sơ sinh. Ở độ tuổi trẻ bắt đầu biết bò, trườn, đi, ăn dặm… trẻ bắt đầu tiếp xúc nhiều với môi trường xung quanh, đi trường mẫu giáo sinh hoạt cùng với các trẻ đồng trang lứa là những yếu tố nguy cơ lây nhiễm tay chân miệng thuận lợi hơn, gây bùng phát dịch tay chân miệng ghi nhận hằng năm. Tay chân miệng ở trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi ít được ghi nhận hơn do ở độ tuổi này trẻ còn bú sữa mẹ, trẻ được nhận kháng thể chống bệnh tật từ mẹ. Mặt khác đối với trẻ lớn trên 5 tuổi, lúc này hệ miễn dịch của trẻ phát triển tương đối hoàn thiện, khả năng mắc bệnh tay chân miệng cũng sẽ giảm dần. Tuy nhiên, tay chân miệng ở người lớn vẫn có thể xảy ra.
Bệnh tay chân miệng được ghi nhận xảy ra quanh năm nhưng nhiều nhất vào 2 mốc thời gian từ tháng 2 - 4 và từ tháng 9 - 12, đây là những thời điểm có nhiều ổ dịch bùng phát, nhiều ca tay chân miệng có biến chứng nặng, kể cả tay chân miệng ở người lớn.
Tay chân miệng lây qua đường nào? Bệnh tay chân miệng lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp và đường tiêu hóa do virus gây bệnh tồn tại trong nước bọt, dịch hắt hơi, dịch sổ mũi, phân, dịch vỡ của các bóng nước trên da, và niêm mạc... Cơ chế sinh bệnh học của các chủng siêu vi có thể khiến cơ thể tăng bài tiết dịch tiết khi mắc bệnh. Trẻ em bị tay chân miệng hắt hơi, chảy mũi, ngậm đồ chơi chung với nhau là con đường lây truyền thuận lợi nhất của dịch bệnh này. Khi được phát tán ra ngoài, virus tay chân miệng vẫn tồn tại khá lâu trong môi trường nhiệt độ phòng, chúng bám lên đồ dùng, đồ chơi, sàn nhà, ly chén, quần áo…, Nếu một em bé khỏe mạnh tiếp xúc với môi trường này thì rất dễ bị lây nhiễm. Không phải chỉ ảnh hưởng đến trẻ em, vẫn có các báo cáo về những trường hợp tay chân miệng ở người lớn bị lây truyền từ trẻ mắc bệnh khi chăm sóc, vệ sinh cho trẻ.  Theo các bác sĩ, nguy cơ lây lan được xem là mạnh nhất trong tuần đầu tiên sau khi bệnh nhân nhiễm bệnh, nhưng giai đoạn lây nhiễm vẫn có thể  kéo dài vài tuần do vi rút vẫn khu trú trong phân.

3.Phòng lây nhiễm bệnh tay chân miệng 

Tay chân miệng hiện nay vẫn chưa có vắc xin phòng bệnh, do đó chỉ có thể phòng lây nhiễm tay chân miệng bằng cách:
  • Người lớn chăm sóc trẻ bị tay chân miệng cần rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước, đặc biệt sau khi tiếp xúc với bọng nước hoặc vết loét của người bệnh. Cần rửa tay trước khi nấu ăn, trước khi ăn, trước khi cho trẻ  ăn, sau khi đi vệ sinh và thay tã cho trẻ;
  • Thường xuyên lau chùi sạch sẽ bề mặt dụng cụ tiếp xúc hàng ngày của trẻ như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn hoặc mặt ghế, sàn nhà… bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường, sau đó tiếp tục sát trùng bằng chất tẩy có chứa chlorine pha loãng;
  • Hạn chế tối đa việc cử chỉ tiếp xúc trực tiếp (như ôm hôn, sử dụng chung đồ dùng…) với trẻ bị tay chân miệng cũng là biện pháp ngăn ngừa virus lây nhiễm;
  • Bệnh nhân tay chân miệng cần che mũi miệng khi hắt hơi hoặc ho;
  • Vứt bỏ khăn giấy và tã lót của bé đã qua sử dụng vào thùng rác có nắp đậy kín;
  • Giữ vệ sinh môi trường sống xung quanh trẻ;
  • Thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo ăn chín, uống chín, sử dụng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày;
  • Tuyệt đối không mớm thức ăn cho trẻ bằng miệng, không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm hay mút đồ chơi; 
  • Trẻ chưa bị bệnh tay chân miệng tốt nhất không cho tiếp xúc với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh;
  • Khi phát hiện trẻ có các dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh tay chân miệng thì phụ huynh cần nhanh chóng đưa trẻ đi khám hoặc thông báo cho bác sĩ để có phương pháp điều trị và chăm sóc phù hợp.
Nếu có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến bệnh tay chân miệng, bệnh nhân hoặc người chăm sóc bé bị tay chân miệng có thể lựa chọn dịch vụ tư vấn sức khỏe trực tuyến
để kết nối cùng Bác sĩ từ xa. Liên kết với nhiều bệnh viện, phòng khám lớn, AIviCare chính là lựa chọn thông thái của các gia đình, cho phép kết nối 1 - 1 với các Bác sĩ gia đình với nhiều ưu điểm:
  • Đặt khám mọi lúc mọi nơi với các bác sĩ, chuyên gia 
  • Thông tin thăm khám được lưu trữ trực tuyến giúp bác sĩ khai thác tiền sử bệnh tốt hơn và theo dõi việc điều trị chặt chẽ hơn.
AIviCare được phát triển bởi VinBrain (thành viên của tập đoàn Vingroup) với lõi công nghệ là trí tuệ nhân tạo (AI) mang lại nhiều tính năng ưu việt và vượt trội trong tư vấn chăm sóc sức khỏe từ xa cho người bệnh. Đây là một nền tảng chăm sóc sức khỏe trực tuyến tích hợp đầy đủ các chức năng cần có như:
  • Tạo tài khoản nhanh chóng;
  • Đăng nhập thông minh;
  • Đặt hẹn trực tuyến;
  • Kết nối với bác sĩ online ổn định…
Thêm vào đó, AIviCare còn mang lại nhiều tiện ích độc quyền như:
  • MIỄN PHÍ kiểm tra X-quang ngực thẳng giúp chẩn đoán hơn 21 bệnh lý và các dấu hiệu nguy cơ trên ảnh X-quang ngực thẳng nhờ tích hợp sẵn DrAid (AI Trợ lý bác sĩ) với độ chính xác trên 90%, thời gian xử lý chỉ trong vòng 5s;
  • AI chatbot thông minh giúp khách hàng nhanh chóng tìm được bác sĩ và các gói khám phù hợp nhất: 
Nhanh tay tải App AIviCare để được theo dõi chăm sóc sức khỏe ngay hôm nay
Lưu ý: Đây là các nội dung y học mang tính tham khảo, không khuyến cáo khách hàng tự áp dụng. Chúng tôi không chịu trách nhiệm với các trường hợp tự điều trị mà không có sự tham vấn và chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.