Tin tức 19/08/2022

Bệnh vảy nến có chữa được không?

Bệnh vảy nến là gì? Đây là một bệnh da mãn tính gặp ở mọi lứa tuổi, biểu hiện đặc trưng là những mảng đỏ và bong tróc vảy trắng toàn thân. Câu hỏi mà nhiều đặt ra là bị bệnh vảy nến có chữa được không?

1. Bệnh vảy nến là gì?

Vảy nến (hay Psoriasis) là một trong những bệnh da mạn tính phổ biến hiện nay. Bệnh vảy nến có thể xảy ra ở mọi độ tuổi, bao gồm cả trẻ em độ trung bình từ 7 đến 10. Biểu hiện đặc trưng của vảy nến là bởi những sẩn hay mảng đỏ kèm bong tróc vảy trắng ở trên da.
Nhiều bệnh nhân thắc mắc bị bệnh vảy nến có chữa được không? Câu trả lời được các chuyên gia đưa ra vì đây là bệnh mãn tính nên rất khó hay không thể chữa khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên các phương pháp trị bệnh vảy nến hiện nay vẫn có thể hiệu quả trong việc kiểm soát bệnh ở trạng thái ổn định và không có đợt bùng phát cấp tính.
Nguyên nhân của bệnh lý này đến nay vẫn không rõ ràng, nhưng khả năng cao là liên quan yếu tố miễn dịch của tế bào sừng ở lớp thượng bì da. Trong đó tế bào T dường như đóng vai trò trung tâm trong cơ chế gây bệnh vảy nến. Theo nghiên cứu, vảy nến thường có mối liên quan đến tiền sử gia đình và một số gen hay kháng nguyên HLA (như Cw6, B13, B17). Phân tích gen xác định được rất nhiều locus nhạy cảm vảy nến, trong đó locus PSORS1 trên nhiễm sắc thể 6p21 đóng vai trò quan trọng nhất trong việc phát triển vảy nến. 
Bên cạnh đó, một số tác nhân kích thích từ môi trường bên ngoài được cho là yếu tố gây ra phản ứng viêm, dẫn đến tăng sinh mất kiểm soát của tế bào sừng. Các yếu tố đã được xác định bao gồm:
  • Chấn thương (hay còn gọi là hiện tượng Koebner);
  • Da cháy nắng;
  • Nhiễm virus HIV;
  • Nhiễm liên cầu tan huyết beta (dẫn đến bệnh vẩy nến Guttate);
  • Sử dụng một số loại thuốc, đặc biệt là nhóm chẹn beta giao cảo, Chloroquine, Lithium, nhóm ức chế men chuyển ACE, Indomethacin, Terbinafine và Interferon-alfa;
  • Tinh thần, cảm xúc căng thẳng;
  • Sử dụng bia rượu, hút thuốc lá;
  • Béo phì.

2. Triệu chứng bệnh vảy nến là gì?

Vảy nến có biểu hiện đặc trưng là những mảng đỏ trên da, sau đó bong vảy khô, màu trắng hoặc đục. Tổn thương của bệnh vảy nến có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào, thường gặp ở thân mình, tay chân, da đầu và/hoặc những vùng da thường xuyên cọ sát. Trẻ em thường mắc bệnh vảy nến thể giọt với triệu chứng trên da là các sẩn màu đỏ, hình giọt nước nằm rải rác và thường khởi phát sau một đợt nhiễm trùng mũi họng hoặc sau tiêm vắc-xin.

tr-benh-vay-nen

Bệnh vảy nến xuất hiện những mảng đỏ trên da, sau đó bong vảy khô, màu trắng hoặc đục.

3. Bệnh vảy nến có chữa được không?

Liệu pháp điều trị vảy nến hiện nay rất phong phú, bao gồm sử dụng các thuốc trị bệnh vảy nến tại chỗ (như chất làm mềm da, Axit salicylic, hắc ín, Anthralin, Corticosteroid, dẫn xuất vitamin D3, chất ức chế Calcineurin, Tazarotene…), liệu pháp quang trị liệu bằng tia cực tím hoặc thuốc trị bệnh vảy nến toàn thân (như Methotrexate, Retinoids uống, Cyclosporine hay các chất điều hòa miễn dịch sinh học).

3.1. Thuốc trị bệnh vảy nến tại chỗ

Corticosteroid tại chỗ là một trong những liệu pháp trị bệnh vảy nến thông dụng hiện nay, tuy nhiên đường toàn thân lại sử dụng rất thận trọng (chỉ dùng trong các đợt bùng phát trầm trọng hoặc vảy nến thể mụn mủ. Corticosteroid tại chỗ thường được sử dụng mỗi ngày 2 lần, mang lại hiệu quả cao nhất khi sử dụng qua đêm dưới lớp phủ polyethylene hoặc kết hợp băng kín da. Tùy theo mức độ bệnh mà để lựa chọn hoạt chất Corticosteroid với hoạt lực phù hợp.
Khi các tổn thương của vảy nến có chiều hướng giảm, bệnh nhân cần được giảm tần suất bôi thuốc cũng như giảm liều để hạn chế các biến chứng tại chỗ như teo da, rạn da và giãn mạch. Lý tưởng nhất là sau khoảng 3 tuần bôi Corticosteroid thì thay thế bằng chất làm mềm da trong 1-2 tuần (tạm gọi là thời kỳ nghỉ ngơi) với mục đích kiểm soát liều dùng và ngăn ngừa hiện tượng quen Corticosteroid nhanh. Liệu pháp điều trị bệnh vảy nến bằng Corticosteroid tại chỗ có thể cần một lượng lớn thuốc (khoảng 30g) cho mỗi lần sử dụng khi bề mặt da tổn thương quá lớn, điều này dẫn đến tốn kém, tăng nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và thậm chí làm trầm trọng thêm bệnh vẩy nến. Một vấn đề cần lưu ý là vảy nến có nguy cơ tái phát nhanh hơn sau khi ngừng dùng Corticosteroid so với các thuốc trị bệnh vảy nến khác.
Dẫn xuất Vitamin D3 (như Calcipotriol, Calcitriol) là những chất tương tự vitamin D dùng tại chỗ có tác dụng gây bình thường hóa quá trình tăng sinh, biệt hóa của tế bào sừng. Thuốc trị bệnh vảy nến này có thể dùng đơn lẻ hoặc kết hợp với Corticosteroid tại chỗ. Một số bác sĩ chuyên khoa thường sẽ chỉ định Calcipotriol cho bệnh nhân dùng các ngày trong tuần và Corticosteroid tại chỗ vào cuối tuần.
Chất ức chế Calcineurin (như Tacrolimus, Pimecrolimus) được bào chế dạng thuốc bôi tại chỗ với khả năng dung nạp tốt. Mặc dù hiệu quả có thể không bằng Corticosteroid nhưng có ưu điểm là hạn chế được các tác dụng ngoại ý của Corticosteroid khi bôi trên da mặt và vùng nếp gấp.
Một thuốc trị bệnh vảy nến tại chỗ khác được bác sĩ chỉ định là Tazarotene, bản chất là một Retinoid. Tazarotene hiệu quả không bằng Corticosteroids khi đơn trị liệu nhưng lại là một liệu pháp hỗ trợ trị bệnh vảy nến rất hiệu quả.
Các phương pháp điều trị bệnh vảy nến tại chỗ bổ sung khác:
  • Chất làm mềm da bao gồm kem làm mềm, thuốc mỡ, xăng dầu, Parafin và thậm chí dầu thực vật đã được hydro hóa. Các sản phẩm này hỗ trợ giảm bong tróc vảy hiệu quả khi sử dụng 2 lần mỗi ngày sau khi tắm. Các tổn thương của vảy nến có thể giảm đỏ hơn khi hiện tượng bong vảy giảm hoặc vảy trong suốt hơn;
  • Axit salicylic có công dụng giúp bạt sừng và làm mềm vảy, từ đó tạo điều kiện vảy bong dễ hơn và tăng mức độ hấp thu các thuốc trị bệnh vảy nến khác. Hoạt chất này đặc biệt hiệu quả khi điều trị vảy nến da đầu do chúng có thể khá dày;
  • Cơ chế tác dụng của nhựa than đá chưa rõ, nhưng lại có tác dụng chống viêm và làm giảm quá trình tăng sinh tế bào sừng rất tốt. Nhựa than đá có thể kết hợp với Corticosteroid tại chỗ hoặc liệu pháp ánh sáng UVB tự nhiên/nhân tạo phổ rộng theo từng bước tăng dần;
  • Anthralin là một hoạt chất chống tăng sinh và kháng viêm với cơ chế hoạt động chưa rõ. Tuy nhiên việc trị bệnh vảy nến bằng Anthralin có thể dẫn đến kích ứng hoặc gây nhuộm màu da, đặc biệt khi bôi ở da vùng kẽ. Bệnh nhân có thể tránh những tác dụng ngoại ý này bằng cách rửa sạch Anthralin trong vòng 20-30 phút sau khi bôi.

3.2. Quang trị liệu

Liệu pháp tia UV (tia cực tím) thường được sử dụng để trị bệnh vảy nến tổn thương rộng. Tuy nhiên cơ chế tác dụng của liệu pháp ánh sáng vẫn chưa rõ, mặc dù tua UVB được biết đến có khả năng ức chế tổng hợp DNA và ức chế miễn dịch nhẹ. Trong liệu pháp trị bệnh vảy nến bằng tia UVA (gọi là PUVA), bệnh nhân sẽ được cho uống Methoxy-psoralen (chất có công dụng tăng nhạy cảm ánh sáng), sau đó tiếp tục tiếp xúc với ánh sáng UVA bước sóng dài (330 đến 360nm). Liệu pháp PUVA có tác dụng chống lan nhanh các tổn thương và góp phần bình thường hóa quá trình biệt hóa tế bào sừng, tuy nhiên liều lượng ánh sáng nên bắt đầu ở mức thấp và tăng dần khi bệnh nhân dung nạp vì liều UVA quá cao có thể gây bỏng nặng.
Mặc dù việc sử dụng quang trị liệu ít phức tạp hơn các thuốc trị bệnh vảy nến tại chỗ, có thể đem lại hiệu quả kéo dài vài tháng nhưng khi điều trị lặp lại có thể làm tăng nguy cơ ung thư da do tia cực tím hoặc u tế bào hắc tố.
Một liệu pháp quang trị liệu khác là sử dụng tia UVB dải hẹp có bước sóng 311-312nm (còn gọi là NBUVB), khi đó bệnh nhân không cần dùng psoralens mà hiệu quả cũng tương đương PUVA. Một phương pháp trị bệnh vảy nến bằng ánh sáng khác đã được áp là chiều laser Excimer có bước sóng 308nm để nhắm vào các mảng vảy nến.

3.3. Thuốc ức chế miễn dịch

Methotrexate đường uống một thuốc trị bệnh vảy nến mức độ nặng rất hiệu quả, đặc biệt là thể viêm khớp vẩy nến nặng, thể đỏ da toàn thân hoặc thể mụn mủ lan rộng không đáp ứng với các thuốc tại chỗ hoặc liệu pháp ánh sáng (NBUVB hoặc PUVA). Tác động của Methotrexate chính xác vào quá trình tăng sinh nhanh chóng của các tế bào lớp biểu bì da nhưng bệnh nhân phải được theo dõi sát các chỉ số huyết học, chức năng thận và chức năng gan.
Một hoạt chất ức chế miễn dịch khác đã được ứng dụng để điều trị bệnh vảy nến là Cyclosporine, đặc biệt là thể bệnh nặng. Tuy nhiên Cyclosporin chỉ được dùng giới hạn bằng những điều trị vài tháng (ít khi kéo dài 1 năm) và xen kẽ với các phương pháp trị bệnh vảy nến khác do nguy cơ ảnh hưởng chức năng thận và tác động tiềm tàng trên hệ miễn dịch.
Các thuốc ức chế miễn dịch khác (như Hydroxyurea, 6-thioguanine hay Mycophenolate Mofetil) có mức độ an toàn thấp và chủ yếu chỉ định cho các thể vẩy nến nặng khó trị. Trong đó Mycophenolate mofetil là một lựa chọn thay thế khi không đáp ứng với Methotrexate hay Cyclosporin hoặc bệnh nhân bị ngộ độc thuốc.

thuoc-tri-benh-vay-nen

Thuốc trị bệnh vẩy nến thường được sử dụng là thuốc ức chế miễn dịch
 

3.4. Các phương pháp toàn thân trị bệnh vảy nến khác

Retinoid toàn thân (như Acitretin, Isotretinoin) có thể mang lại hiệu quả cho bệnh nhân vảy nến thể mảng mức độ nặng, vảy nến thể mủ (Isotretinoin được ưu tiên hơn) và vảy nến lòng bàn tay bàn chân. Tuy nhiên tác dụng ngoại ý nghiêm trọng của các Retinoid toàn thân là nguy cơ gây quái thai. Trong đó Acitretin tồn tại rất lâu trong cơ thể nên phụ nữ dùng thuốc không được mang thai cho đến ít nhất 2 năm sau khi ngưng thuốc, còn người sử dụng hoạt chất Isotretinoin được khuyến cáo hạn chế mang thai nhưng thời gian thuốc tồn đọng trong cơ thể chỉ khoảng 1 tháng.
Các tác nhân điều hòa miễn dịch bao, gồm chất ức chế yếu tố hoại tử u TNF-alpha (như Etanercept, Adalimumab, Infliximab), cũng đã được sử dụng để trị bệnh vảy nến. Các chất ức chế TNF-alpha có tác dụng làm sạch tổn thương của vảy nến nhưng mức độ an toàn vẫn đang được nghiên cứu. Ustekinumab, một kháng thể đơn dòng từ người, nhắm mục tiêu là IL-12 và IL-23, có thể được sử dụng cho trị bệnh vẩy nến trung bình đến nặng. Apremilast (chất ức chế phosphodiesterase-4) là thuốc uống duy nhất có sẵn trị bệnh vẩy nến, tuy nhiên dữ liệu sau khi đưa ra thị trường cho thấy không hiệu quả như chất ức chế TNF-alpha.
Nếu có bất kỳ thắc mắc, băn khoăn nào về bệnh vảy nến, bạn có thể lựa chọn dịch vụ chăm sóc da liễu để kết nối với Bác sĩ từ xa. Giải pháp khám từ xa qua cuộc gọi video với bác sĩ đang là một trong những phương pháp tiên tiến và hiện đại nhất trong năm 2022 giữa bối cảnh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường đang leo thang ngày một nghiêm trọng. 
Với AIviCare, bạn hoàn toàn có thể gặp ngay bác sĩ chỉ sau 5 phút và nhận tư vấn dứt điểm cho các các biểu hiện của da như: Bệnh zona người lớn; Phát ban (nổi mề đay người lớn); Bệnh vảy nến; Bệnh chàm; Bệnh trứng cá đỏ; Các vấn đề về nấm da; Phát ban, lang ben, hắc lào; Các vấn đề về mụn, nhọt; Nám…
AIviCare được phát triển bởi VinBrain (thành viên của tập đoàn Vingroup) với lõi công nghệ là trí tuệ nhân tạo (AI) mang lại nhiều tính năng ưu việt và vượt trội trong tư vấn chăm sóc sức khỏe từ xa cho người bệnh. Đây là một nền tảng chăm sóc sức khỏe trực tuyến tích hợp đầy đủ các chức năng cần có như:
  • Tạo tài khoản nhanh chóng;
  • Đăng nhập thông minh;
  • Đặt hẹn trực tuyến;
  • Kết nối với bác sĩ online ổn định…
Thêm vào đó, AIviCare còn mang lại nhiều tiện ích độc quyền như:
  • MIỄN PHÍ kiểm tra X-quang ngực thẳng giúp chẩn đoán hơn 21 bệnh lý và các dấu hiệu nguy cơ trên ảnh X-quang ngực thẳng nhờ tích hợp sẵn DrAid (AI Trợ lý bác sĩ) với độ chính xác trên 90%, thời gian xử lý chỉ trong vòng 5s;
  • AI chatbot thông minh giúp khách hàng nhanh chóng tìm được bác sĩ và các gói khám phù hợp nhất: 
Nhanh tay tải App AIviCare để được theo dõi chăm sóc sức khỏe ngay hôm nay
  • Link cài app trên hệ Google Play: 
  • Link cài app trên App Store: 
Ghi chú: Đây là các nội dung y học mang tính tham khảo, không khuyến cáo khách hàng tự áp dụng. Chúng tôi không chịu trách nhiệm với các trường hợp tự điều trị mà không có sự tham vấn và chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.